Một số y kiến góp ý dự thảo BLDS

Những hạn chế, bất cập liên quan đến chế định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và gợi ý về hướng khắc phục trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam

 

Chế định tài sản và quyền sở hữu được xem là một chế định quan trọng trong Bộ luật Dân sự 2005 bởi đây là chế định có tầm ảnh hưởng lớn tới những chế định khác như chế định hợp đồng, chế định thừa kế…  Các quy định về chế định sở hữu tài sản trong Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 có tính khái quát cao bao gồm 117 điều từ điều 163 đến điều 279. Phần này đã quy định các vấn đề về khái niệm tài sản, phân loại tài sản; khái niệm, nội dung quyền sở hữu; hình thức sở hữu; căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu; bảo vệ quyền sở hữu và những vấn đề khác có liên quan đến quyền sở hữu. Đồng thời, BLDS cũng quy định về quyền của người  không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng cũng có những quyền năng nhất định trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người khác.

Các quy định của BLDS đã tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để Toà án giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu. Ngoài BLDS, vấn đề này còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau (kể cả văn bản dưới luật như các Nghị định về giao dịch bảo đảm).

 

1.     Những hạn chế, bất cập liên quan đến chế định tài sản và quyền sở hữu

Thực tiễn thi hành cho thấy, chế định tài sản và quyền sở hữu được quy định tại Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, nội dung của phần “Tài sản và quyền sở hữu” không dựa trên lý thuyết căn bản về vật quyền và trái quyền nên chưa làm rõ được bản chất, phạm vi của khái niệm tài sản và mối quan hệ giữa các quyền tài sản đối với các tài sản. Cụ thể như sau:

2.1 Về tài sản

 BLDS kết cấu tài sản trong Phần tài sản và quyền sở hữu như là đối tượng của quyền sở hữu và quyền của các chủ thể không phải là chủ sở hữu tài sản (trong khi tài sản cũng có thể là đối tượng của quan hệ nghĩa vụ, hợp đồng). Trong đó, tài sản được quy định bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Ngoài quyền tài sản, Bộ luật chưa có quy phạm định nghĩa về vật, tiền, giấy tờ có giá. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật đã có nhiều cách hiểu khác nhau về tài sản và vật.

- Hơn nữa là quy định về tài sản hình thành trong tương lai. BLDS đã thừa nhận tài sản hình thành trong tương lai có thể là đối tượng của giao dịch. Tuy nhiên, Bộ luật này lại không đưa ra căn cứ cụ thể để xác định một tài sản là tài sản hình thành trong tương lai dẫn tới trong thực tiễn áp dụng có nhiều cách hiểu khác nhau; không thống nhất trong áp dụng pháp luật; việc đưa tài sản hình thành trong tương lai vào giao dịch là hết sức khó khăn do các chủ thể lo ngại nhiều rủi ro pháp lý trong giao dịch này. Trong các luật chuyên ngành, việc thừa nhận tài sản hình thành trong tương lai là đối tượng của giao dịch cũng rất hạn chế. Sự không đồng bộ, thống nhất trong quy định về tài sản hình thành trong tương lai là đối tượng của giao dịch như vậy đã gây nên không ít khó khăn cho cá nhân, tổ chức khi xác lập, thực hiện giao dịch và thực hiện các thủ tục có liên quan.

2.2  Về quyền sở hữu

Cần có những quy định riêng biệt thành 1 chế định về quyền chiếm hữu vì đây là chế định rất quan trọng. Trong nền kinh tế thị trường, trên một tài sản có rất nhiều chủ thể với nhiều cấp độ và mức độ chiếm hữu mà pháp luật phải xác định rõ. Bộ luật Dân sự – đạo luật gốc của hệ thống luật tư phải giải quyết vấn đề này làm cơ sở cho các quy định trong các luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ tài sản trong quá trình dịch chuyển. Đây cũng là cơ sở để xác định và phân biệt quyền sở hữu với các loại vật quyền khác. Cụ thể, quy định về quyền sở hữu, quyền của người không phải là chủ sở hữu cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như:

+ Về thời điểm chuyển quyền sở hữu và các vật quyền khác đối với bất động sản

Điều 168 quy định: “việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Theo quy định này thì đối với bất động sản, đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của việc chuyển quyền sở hữu. Tuy nhiên, nguyên tắc này bị phá vỡ do có quy định “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Cách quy định như vậy của BLDS, cũng như của một số văn bản pháp luật hiện hành đã gây nên sự không thống nhất trong pháp luật, đặc biệt trong các quy định về quyền sử dụng đất và nhà ở. Hiện nay, nhà ở là một trong các loại tài sản thuộc sự loại trừ của Điều 168 vì theo quy định của Luật nhà ở, quyền sở hữu đối với nhà ở được chuyển kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng (Điều 93 Luật Nhà ở). Tuy nhiên, đối với quyền sử dụng đất thì thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản này lại được xác định kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (Điều 692). Như vậy, cùng là một khối tài sản thống nhất là nhà và đất nhưng thời điểm chuyển quyền giữa đất và nhà trên đất lại khác nhau, gây khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng;

+ Về hình thức sở hữu

Việc xác định các hình thức sở hữu trong BLDS hiện hành là chưa khoa học, tạo ra sự phức tạp không cần thiết trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức sở hữu này. Theo Bộ luật hiện hành, ở nước ta có 6 hình thức sở hữu (Điều 200 – Điều 232), bao gồm: (1) sở hữu nhà nước; (2) sở hữu tập thể; (3) sở hữu tư nhân; (4) sở hữu chung; (5) sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (6) sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Việc phân chia hình thức sở hữu dựa vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể như vậy là không hợp lý, cần phải thay đổi.

Thứ nhất, việc phân loại hình thức sở hữu căn cứ vào các loại hình tổ chức (như sở hữu của tổ chức chính trị; tổ chức chính trị – xã hội; tổ chức xã hội…) là không có căn cứ khoa học. Khi xác định một hình thức sở hữu nào đó thì phải xuất phát từ sự khác biệt về nội dung quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), về phương thức thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản. Qua nghiên cứu cho thấy, nội dung của quyền sở hữu được quy định trong BLDS hiện hành là không có gì khác nhau đối với các hình thức sở hữu khác nhau, không có ý nghĩa về mặt pháp lý khi không chỉ ra được sự khác biệt cơ bản giữa các hình thức sở hữu này, ngoại trừ việc phân loại sở hữu riêng (một chủ) và sở hữu chung (sở hữu nhiều chủ). Trong sở hữu chung thì khi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản cần phải có sự thỏa thuận của các đồng chủ sở hữu; không đồng chủ sở hữu nào được tự ý quyết định vấn đề gì. Đây là điểm khác biệt cơ bản của hình thức sở hữu chung so với trường hợp tài sản là sở hữu riêng của một chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân) vì các chủ thể này có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến tài sản của mình mà không phải tính đến ý chí của người khác;

Thứ hai, về sở hữu tập thể (Điều 208 và Điều 209): theo quy định hiện hành thì sở hữu tập thể là một hình thức sở hữu độc lập. Tuy nhiên, về cơ bản, đây chỉ là sở hữu của pháp nhân là hợp tác xã. Nếu đã có quy định về sở hữu riêng là sở hữu của cá nhân và pháp nhân thì không cần quy định một hình thức sở hữu độc lập là sở hữu tập thể nữa vì hợp tác xã cũng là một loại hình cụ thể của pháp nhân;

Thứ ba, về sở hữu tư nhân: theo Điều 211 thì sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Như vậy, quy định sở hữu tư nhân thực chất là sở hữu của cá nhân là chưa đầy đủ, vì chưa bao quát được sở hữu của một loại chủ thể pháp lý khác là pháp nhân. Về nguyên lý, sở hữu tư nhân phải được quy định như là"sở hữu riêng" để bao quát được sở hữu của cả cá nhân lẫn của pháp nhân;

Thứ tư, về sở hữu chung: việc quy định về sở hữu chung hỗn hợp tại Điều 218 là không có ý nghĩa pháp lý, vì bản chất nó là một loại sở hữu chung theo phần. Trên thực tế, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, chỉ có 3 hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu nhà nước, sở hữu riêng và sở hữu chung;

+ Về bảo vệ quyền sở hữu

Theo Điều 258 thì chủ sở hữu được đòi lại bất động sản trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản đó do bản án, quyết định bị sửa, hủy. Thực tiễn áp dụng quy định này thì đối với quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người dân, như những trường hợp cấp sai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ thể;

+ Về những quy định khác về quyền sở hữu

Một số quy định về bất động sản liền kề trong BLDS chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và không được hướng dẫn kịp thời tạo ra nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Ví dụ, Điều 271 quy định: “Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng”. Tuy nhiên, Luật xây dựng hiện nay lại bỏ trống vấn đề này. Do không có quy định thống nhất nên các bên tranh chấp không giải quyết được mâu thuẫn và gây khó khăn cho cơ quan thi hành pháp luật; Điều 273 quy định: “Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các nhu cầu của mình về lối đi, cấp, thoát nước, cấp khí ga, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý, nhưng phải đền bù, nếu không có thoả thuận khác”. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó thực hiện quyền sử dụng bất động sản của người khác để đảm bảo nhu cầu của mình. BLDS cũng chưa quy định cụ thể việc đền bù, phương thức thoả thuận, biện pháp xử lý, giải quyết trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản liền kề không cho phép chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất tạo lối đi, cấp thoát nước… trên đất của họ mặc dù những người này đã thỏa thuận đền bù. Vì vậy, trên thực tế chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng bất động sản liền kề để đảm bảo lối đi, cấp, thoát nước…

+ Về quyền của người không phải là chủ sở hữu và mối quan hệ với quyền sở hữu

BLDS mới chỉ quan tâm đến các căn cứ xác lập, chấm dứt các quyền sở hữu, các hình thức sở hữu hay nội dung của quyền sở hữu…trong khi đó các vật quyền khác của những người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản chỉ được các nhà làm luật đề cập hết sức sơ sài, mờ nhạt và tản mát mặc dù đây là những quyền tài sản hết sức quan trọng, đa dạng và phổ biến.  Chưa có một chế định riêng về quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản và  quy định về mối quan hệ giữa các quyền, hậu quả pháp lý trong việc xử lý các quyền, không bảo đảm được các quyền, lợi ích hợp pháp của người không phải là chủ sở hữu. BLDS của các nước trên thế giới bên cạnh quyền sở hữu thường quy định quyền của các chủ thể không phải là chủ sở hữu là một chế định quan trọng độc lập với quyền sở hữu.

+Về sự biến động của quyền sở hữu, quyền của người không phải chủ sở hữu (vật quyền) và mối quan hệ với nghĩa vụ và hợp đồng (trái quyền)

Trong hệ thống pháp luật nước ta chưa có quy định thống nhất về biến động vật quyền. Do đó, các quy định về hiệu lực của việc xác lập, thay đổi, chuyển dịch và chấm dứt vật quyền; tính riêng biệt của vật quyền so với trái quyền; quan hệ giữa hành vi vật quyền và hành vi trái quyền chưa có sự đồng bộ, thống nhất hoặc chưa được pháp luật quy định cụ thể, như:

(1) Thời điểm phát sinh hiệu lực của việc xác lập, thay đổi, chuyển dịch và chấm dứt vật quyền không đồng bộ, thống nhất trong quy định của BLDS và các luật chuyên ngành về các quan hệ có đối tượng là bất động sản (Theo Luật nhà ở, thời điểm chuyển quyền đối với nhà ở được tính từ thời điểm công chứng; BLDS và Luật đất đai, thời điểm chuyển quyền sử dụng đất được tính từ thời điểm đăng ký);

(2) Trong quy định về quyền sở hữu và các quy định về nghĩa vụ, hợp đồng chưa thể hiện nhất quán nguyên tắc tách biệt vật quyền và trái quyền dẫn tới khi có tranh chấp thì có nguy cơ quyền, nghĩa vụ của các bên được xác định trên cơ sở quan hệ trái quyền. Do không phân biệt rõ vật quyền và trái quyền, trong trường hợp giao dịch bị hủy do vô hiệu thì việc chuyển dịch quyền sở hữu đối với vật không được thực hiện hoặc không được công nhận dẫn tới giao dịch với người thứ ba có nguy cơ bị tuyên bố vô hiệu cao, mặc dù trong BLDS đã có những điều khoản nhằm bảo vệ một cách hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu đích thực và của người thứ ba chiếm hữu ngay tình (các Điều 138, 257, 258).

Hậu quả pháp lý của việc áp dụng và không áp dụng nguyên tắc tách biệt là khác nhau đối với trường hợp tài sản đã được chuyển giao cho bên mua. Nếu không áp dụng nguyên tắc tách biệt thì người mua tiếp tục bị suy đoán là chiếm hữu vật bất hợp pháp, dẫn đến các giao dịch tiếp theo cũng vô hiệu. Trong trường hợp vật được bán cho người thứ ba thì phụ thuộc nguyên tắc chiếm hữu ngay tình: nếu người thứ ba không chứng minh được mình là người mua ngay tình thì giao dịch với người thứ 3 sẽ bị vô hiệu. Do đó sẽ phát sinh một thủ tục pháp lý về chứng minh sự chiếm hữu ngay tình. Nếu áp dụng nguyên tắc tách biệt thì người mua thứ nhất (trong giao dịch thứ nhất) là chủ sở hữu (vì động sản đã được chuyển giao cho người này) và vì vậy, việc xác lập một giao dịch tiếp theo sẽ là hợp pháp. Người mua thứ hai (là người thứ ba trong mối quan hệ với các bên trong giao dịch thứ nhất) được công nhận là chủ sở hữu vật. Nếu giao dịch thứ nhất (hành vi trái quyền) bị vô hiệu thì về nguyên tắc, quyền của người bán thứ nhất được thực hiện trên cơ sở trái quyền, tức là: nếu vật còn thì người bán có quyền yêu cầu người mua (là người mua thứ nhất trong trường hợp đang xem xét) hoàn trả quyền sở hữu vật (nghĩa là hoàn trả vật đã giao); nếu vật không còn (trong trường hợp nêu trên thì vật đã thuộc quyền sở hữu của người mua thứ hai) thì người bán thứ nhất chỉ có quyền yêu cầu người mua thứ nhất bồi thường thiệt hại. Như vậy, hành vi trái quyền chỉ liên quan đến quan hệ giữa người bán thứ nhất và người mua thứ nhất; còn hành vi vật quyền thì liên quan đến người bán thứ nhất, người mua thứ nhất và người thứ ba. Do đó, nếu áp dụng nguyên tắc tách biệt thì lợi ích của các bên sẽ được điều hòa thỏa đáng hơn so với việc không áp dụng nguyên tắc này.

Việc không quy định rõ ràng nguyên tắc tách biệt cũng đã tác động nhiều đến những giao dịch có đối tượng là bất động sản hoặc động sản có đăng ký sở hữu. Theo quy định hiện hành, trừ hai trường hợp được quy định ở Điều 258, còn lại nếu vì lý do nào đó người có tên trên giấy tờ sở hữu không phải là chủ sở hữu đích thực đối với bất động sản, thì chủ sở hữu đích thực có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch giữa người không phải là chủ sở hữu đích thực với người thứ ba là vô hiệu, người thứ ba phải hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu đích thực cho dù họ có ngay tình. Nếu áp dụng nguyên tắc tách biệt, tài sản đã được bán cho người thứ ba thì người thứ 3 được phép suy đoán là chủ sở hữu theo nguyên tắc thụ đắc ngay tình. Chủ sở hữu đích thực ban đầu có quyền yêu cầu người chủ sở hữu không đích thực (người đứng tên trên giấy tờ sở hữu) bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc thụ đắc vô căn trên cơ sở quan hệ trái quyền.

+ Về chiếm hữu

BLDS quy định chiếm hữu là kết quả của quyền sở hữu, một nội dung của quyền sở hữu và là một quyền của chủ sở hữu (Điều 164 và mục 1, Chương XII. Nội dung quyền sở hữu). Nếu phân chia quyền tài sản thành quyền đối vật (quyền của người có tài sản hữu hình thực hiện trực tiếp quyền của mình đối với vật mà không cần đến sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thể khác và mọi chủ thể khác đều phải tôn trọng quyền này) và quyền đối nhân (quyền của một người yêu cầu một người khác thực hiện một nghĩa vụ – công việc) thì hầu hết các nước đều quy định chiếm hữu là một tình trạng pháp lý của vật hữu hình, là tiền đề để xác lập quyền của người chiếm hữu.

Thực tế, BLDS hiện hành đã quy định một phần về vấn đề này khi đã ghi nhận tình trạng chiếm hữu thực tế của một chủ thể và trong những trường hợp nhất định, chiếm hữu được coi là điều kiện để xác lập quyền sở hữu đối với các chủ thể này, như: xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu (Điều 239), xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm chưa được tìm thấy (Điều 240)… Nhưng cách quy định của BLDS là không rõ ràng, đánh đồng nghĩa vụ chứng minh và chưa phân biệt rõ tình trạng chiếm hữu thực tế có thể được bảo vệ độc lập so với việc bảo vệ quyền sở hữu.

2.     Định hướng hoàn thiện chế định tài sản và quyền sở hữu trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường.

Sau mười năm thực hiện, BLDS bên cạnh nhiều điểm mạnh của một đạo luật gốc, đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, xem xét và sửa đổi, bổ sung.

2.1.             Về tên gọi:

BLDS 2005 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế chưa phát triển, ảnh hưởng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung vẫn còn nặng; đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển hơn, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định. Phần II BLDS 2005 “Tài sản và quyền sở hữu” cần được thay đổi cho phù hợp. Và tên gọi như dự thảo “Quyền sở hữu và các vật quyền khác” là phù hợp. Thực tế BLDS ngoài việc quy định quyền sở hữu cũng đã quy định các loại vật quyền khác. Dự thảo đã quy định các loại quyền đối với vật (vật quyền) đang tồn tại trong nền kinh tế.

2.2.             Việc quy định các hình thức sở hữu cần khoa học, hợp lý; phân biệt rõ giữa hình thức sở hữu và chế độ sở hữu, từ đó xác định BLDS sẽ quy định những hình thức sở hữu nào. BLDS hiện hành quy định sáu hình thức sở hữu (sở hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp) dựa vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể. Lần này, Chính phủ đề xuất ba hình thức sở hữu là phù hợp. Nước ta và ngay cả nhiều nước trên thế giới có ba hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu nhà nước, sở hữu chung và sở hữu riêng. Dự thảo quy định ba hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu riêng, sở hữu chung. Trong đó, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý các tài sản thuộc sở hữu toàn dân nên cần có chế độ pháp lý riêng biệt về hình thức sở hữu này trong BLDS để Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản này. Việc quy định hình thức sở hữu toàn dân là đúng với quy định của Hiến pháp.

Như dự thảo, từ sáu hình thức sở hữu theo quy định của BLDS 2005 còn ba hình thức sở hữu, tên gọi của ba hình thức sở hữu trong dự thảo cũng được thay đổi phù hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam và quốc tế.

2.3.             BLDS sửa đổi, bổ sung cần hoàn thiện chế định quyền sở hữu, tạo điều kiện để mọi chủ sở hữu tài sản đều có thể thực hiện đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.

2.4.             Xây dựng BLDS sửa đổi, bổ sung phải thực sự khẳng định được vai trò là nguồn pháp luật cơ bản về chế định sở hữu. Và như vậy, về cơ bản các hình thức sở hữu quy định trong BLDS mà không nhất thiết phải quy định trong các văn bản pháp luật khác.

Luật sư Nguyễn Duy Lãm - Chủ nhiệm CLB Pháp chế doanh nghiệp

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.